Một số kinh nghiệm trong công tác bồi dưỡng HSG – Thầy Trần Quốc Huy

Tháng Chín 27, 2018 10:10 chiều

BÁO CÁO THAM LUẬN VỀ CÔNG TÁC BỒI DƯỠNG HỌC SINH GIỎI

MÔN: LỊCH SỬ

Xuất phát từ thực tế của đơn vị và kinh nghiệm rút ra được qua hơn 10 năm làm công tác bồi dưỡng học sinh giỏi, tôi mạnh dạn đề xuất một số giải pháp sau đây, với hy vọng sẽ đưa chất lượng bồi dưỡng bộ môn lịch sử ngày càng được nâng lên.

1.Giải pháp thứ nhất: Tuyển chọn đội ngũ học sinh giỏi

Đây là bước đầu tiên nhưng lại có quyết định quan trọng tới chất lượng cuối cùng. Nếu thực hiện tốt bước này, giáo viên sẽ vô cùng thuận lợi trong quá trình bồi dưỡng. Vậy làm thế nào để chọn được đội tuyển ưng ý ?

Trước hết, cần chọn những học sinh có năng lực về kiến thức bộ môn, vì muốn hay không thì điều đầu tiên là các em phải nắm được những nội dung cơ bản về lịch sử. Để tìm ra những học hư vậy không khó. Khâu này tôi thường thực hiện vào giai đoạn cuối của năm học – thời điểm chương trình có nhiều tiết ôn tập, tranh thủ các tiết đó, chúng ta đưa ra một số câu hỏi nâng cao để phát hiện học sinh, ví dụ: Trách nhiệm của triều đình Huế trong việc để nước ta rơi vào tay thực dân Pháp?, hay là: Qua con đường cứu nước của Nguyễn Ái Quốc, em hãy cho biết nó khác như thế nào với các bậc tiền bối?….

Sau năng lực học tập, chúng ta cũng phải chọn những em ngoan, chăm học. Có niềm say mê và yêu thích môn Lịch sử. Có tính chủ động, thích học hỏi và có ý thức phấn đấu, vươn lên.

Khả năng lĩnh hội kiến thức một cách lôgic, chủ động, vừa nhanh nhưng vừa

chắc chắn. Thực hiện tốt các kỹ năng làm bài, đặc biệt là các kỹ năng phân tích, so

sánh và tổng hợp kiến thức, cũng là nhân tố không thể bỏ qua trong quá trình lựa chọn.

Thứ hai, trao đổi với giáo viên chủ nhiệm, các giáo viên bộ môn khác và tham mưu với Ban giám hiệu để tránh chồng chéo trong phân đội tuyển, giảm tới mức tối đa tình trạng một em phải ôn luyện nhiều môn cùng lúc.

  1. Giải pháp thứ hai:  Giáo viên bồi dưỡng phải thực hiện tốt về chương trình và tài liệu bồi dưỡng.Trong quá trình bồi dưỡng giáo viên còn phải thực hiện tốt về chương trình và tài liệu bồi dưỡng.

          2.1. Chương trình bồi dưỡng

Giáo viên xác định rõ trọng tâm kiến thức giảng dạy. Cần biên soạn nội dung bồi dưỡng rõ ràng, cụ thể, chi tiết về từng mảng kiến thức. Tiến hành bồi dưỡng phải theo quy trình từ thấp đến cao, từ dễ  đến khó để các em dễ tiếp thu.

Đối với chương trình lịch sử lớp 9, do trong học kỳ I chỉ học 01 tiết/ tuần, nên dù muốn hay không chúng ta cần chủ động đẩy nhanh chương trình cho học sinh, tức là dạy trước. Kinh nghiệm của tôi trong năm học vừa qua đó là: Lấy chương trình kỳ II (phần lịch sử Việt Nam), làm nội dung bồi dưỡng ngay từ đầu cho các em, còn phần lịch sử thế giới các em sẽ được tiếp thu thông qua các tiết học trên lớp, cộng thêm với những tài liệu tham khảo được giáo viên cung cấp. Với cách làm này, đến đầu học kỳ I, tôi đã cung cấp cho các em những kiến thức trong chương trình lịch sử lớp 9 từ bài 1 cho tới bài 27- hoàn thành chương trình tuần 29. Kể từ thời điểm này trở đi, tôi bắt đầu cho các em tiếp cận với các dạng đề cho tới lúc tham gia dự thi cấp Huyện.

Có một điều các giáo viên trên địa bàn Huyện cần lưu ý ở đây là: chúng ta cần lên chương trình một cách xuyên suốt, không ngắt quảng, nhất là trong giai đoạn các em nghĩ tết Nguyên đán. Nếu trong khoảng thời gian này các em không được giao bài, thường xuyên kiểm tra nhắc nhở thì tôi nghĩ công lao mà chúng ta bõ ra trước đó coi như “vô nghĩa”. Nhận thức được vấn đề đó, trong năm qua, tôi đã biên soạn hệ thống câu hỏi, bài tập sớm để giao nhiệm vụ cho các em và căn dặn: phải hoàn thành tất cả các bài tập (khoảng 50 câu hỏi, được biên soạn thành 10 đề) vào một quyển sổ, ra Tết

thầy sẽ kiểm tra. Với cách làm này, các em vừa không quên kiến thức, lại rèn luyện được kỹ năng làm bài – “Một mũi tên trúng hai đích” phải không các bạn?!

2.2.  Tài liệu bồi dưỡng

Giáo viên cung cấp cho học sinh các tài liệu, sách vở cơ bản và nâng cao. Đồng thời còn cung cấp thêm cho các em các tài liệu trên mạng internet để các em bổ sung kiến thức. Giáo viên cung cấp các đề thi học sinh giỏi các cấp ở trong tỉnh và các tỉnh khác qua các kì thi để nhằm giúp các em làm quen với các dạng đề. Từ nội dung chương trình, phân phối chương trình, lịch báo giảng, xây dựng giáo án cụ thể cho từng tiết dạy; giáo án phải tập trung chú trọng nâng cao kiến thức bộ môn, mở rộng kiến thức, nhưng phải có hệ thống, giúp học sinh dễ nhớ, dễ hiểu, dễ vận dụng trong làm bài. Xây dựng giáo án có vai trò hết sức quan trọng, thể hiện nội dung xuyên suốt trong cả quá trình bồi dưỡng.

  1. Giải pháp thứ ba: Giúp học sinh thực sự yêu thích học bộ môn Lịch sử.

          Đây là vấn đề rất khó khăn của mỗi người giáo viên đứng lớp, làm sao để học sinh thực sự yêu thích môn học của mình, đam mê với môn học.

          Mỗi buổi học bồi dưỡng, do chủ động về thời gian nên thầy và trò có cơ hội nhiều hơn để nói chuyện, tâm sự; không nên cứng nhắc, cứ hết mỗi tiết 45 ra chơi, lại vào học, hết thời gian thì về. Đặc biệt trong việc bồi dưỡng đội tuyển của Huyện, đa

 số các em còn bỡ ngỡ vì giáo viên mới, cách học mới, các em lại lần đầu tiên xa nhà.

Cần phải động viên, khích lệ các em trong học tập bộ môn mà nhiều người cho là “khó gặm” này. Kể một số câu chuyện về Lịch sử để giúp các em thêm hứng thú, không nhàm chán môn học.

          Cần khéo léo động viên để gắn trách nhiệm cho các em cũng là một cách để các em yêu thích môn học, hãy cho các em nhận thấy rằng mình là niềm tự hào của gia đình, của dòng họ, của nhà trường, của địa phương khi đạt giải học sinh giỏi. Vậy nên hãy cố gắng để không phụ tất cả những niềm tin, lòng tự hào đó. Những nguồn động viên đó có tác dụng rất lớn, giúp các em thêm tự tin, để rồi thầy trò thêm gần gũi, đặc

 biệt là các em càng thêm yêu thích học môn Lịch sử.

  1. Giải pháp thứ tư: Giúp các em biết phương pháp học môn Lịch sử.

Vấn đề này tưởng chừng như đơn giản vì các em đã là học sinh cuối cấp, nhưng không hẳn như vậy. Qua những lần tham gia chấm thi học sinh giỏi cấp Huyện, tôi đã thấy được sự yếu kém của học sinh trong cách học và làm bài thi môn lịch sử – Có những em làm 3 tờ giấy thi (6 mặt giấy), nhưng không có điểm nào, vì các em học theo lối học thuộc lòng, không đúng nội dung câu hỏi, không đúng sự kiện, nhưng thuộc thế là viết.

Bởi vậy cần hướng dẫn, bày vẽ cho các em phương pháp học môn Lịch sử; qua

thực tế giảng dạy và bồi dưỡng nhiều năm, tôi rút ra một số phương pháp để nâng cao

chất lượng học lịch sử như sau:

Thứ nhất, học sinh phải có cái nhìn tổng thể về lịch sử Việt Nam và lịch sử thế giới trong chương trình. Khi học, yêu cầu đầu tiên là các em phải vẽ được bức tranh lịch sử gồm nhiều giai đoạn với những tên gọi và đặc điểm riêng của từng giai đoạn. Tiếp đó, với mỗi giai đoạn các em lại đi sâu nắm vững những nội dung và sự kiện chính, có ý nghĩa quan trọng. Sử dụng “ sơ đồ tư duy” để triển khai nội dung cần học. Với mỗi nội dung học, học sinh phải nắm vững những sự kiện chính và trả lời được câu hỏi: diễn ra ở đâu, thời gian nào, diễn ra làm sao và ý nghĩa của sự kiện đó như thế nào? Học theo phương pháp từ trên xuống dưới, vì cách học này giúp các em dễ học, dễ nhớ, dễ hiểu.

Thứ hai, cần học dứt điểm từng chủ đề một. Sau khi hoàn thành một chủ đề, các em phải làm các bài tập trong phần cuối mỗi chủ đề. Tất cả các bài tập đó được làm vào trong cuốn vở riêng.

          Thứ ba, yêu cầu các em đọc thêm sách giáo khoa, các tài liệu tham khảo để bổ sung cho các nội dung đã học. Giải thích cho các em hiểu tác dụng của việc tự học và coi đây là phương pháp ôn luyện tốt nhất, quyết định nhất đến sự thành công của các em.

  1. Giải pháp thứ năm: Hướng dẫn học sinh cách làm bài thi môn lịch sử.

Rèn luyện cho học sinh kỹ năng làm bài cũng là một yêu cầu quan trọng trong bồi dưỡng. Và đây cũng là một trong những nhân tố quyết định đến chất lượng của quá trình bồi dưỡng. Qua đúc rút kinh nghiệm nhiều năm, tôi đã hướng dẫn học sinh làm bài qua các bước sau đây:

         – Bước 1: Đọc kỹ đề. Đọc kỹ đề để xác định yêu cầu của đề, mỗi câu hỏi thì cần xác định thời gian, không gian và trọng tâm. Nếu học sinh không cẩn thận trong khâu này thì rất dễ bị lạc đề.

         – Bước 2: Viết đề cương sơ lược. Đây là một bước rất quan trọng. Đề cương, dàn ý sơ lược sẽ giúp học sinh triển khai bài rành mạch, không sợ bỏ sót, thiếu ý khi làm bài.

         – Bước 3: Cần phân phối thời gian làm bài cho hợp lý. Hướng dẫn học sinh thực hiện tốt bước này bằng cách: lấy thời gian làm bài chia cho thang điểm 10, qua đó tập trung thời gian hợp lý cho từng câu hỏi. Ví dụ, thời gian làm bài là 150 phút, dành 30 phút để đọc đề, viết đề cương sơ lược và đọc lại bài sau khi làm xong, còn 120 phút, ta lấy 120 chia cho thang điểm 10, như vậy mỗi  điểm

tương ứng với 12 phút.

        – Bước 4: Viết bài . Viết vào bài thi một cách rõ ràng, khoa học. Hết mỗi ý chính, mỗi sự kiện nên xuống dòng. Thấy cần thiết để làm nổi bật từng giai đoạn, từng sự kiện, từng ý nghĩa có thể ghi 1,2,3 hoặc a,b,c…, vì lịch sử là môn khoa học xã hội, có thể trình bày một cách có hệ thống. Như vậy cũng dể cho người chấm.

         Trong khi làm bài, không viết tắt, không dùng những ký hiệu. Chữ nào sai thì gạch đè lên, không nên xóa lem nhem, không đưa vào ngoặc đơn. Nếu lỡ thiếu cả một đoạn dài, có thể ghi bổ sung xuống cuối bài. Câu nào dễ làm trước, câu nào khó làm sau; nhiều điểm làm trước, ít điểm làm sau. Phải cố gắng làm hết các câu hỏi trong bài

 Nhớ phân phối thời gian hợp lý trong khi làm bài.

Khi làm bài thi Sử cũng cần triển khai như một bài Văn. Tức là có phần mở bài, thân bài và kết luận. Phần mở bài (có thể sử dụng hoàn cảnh lịch sử để mở bài) nhưng lưu ý không nên quá dài dòng, chỉ cần vài câu, đủ ý để dẫn dắt vào nội dung trả lời.

Phần thân bài (đây là trọng tâm câu trả lời): Dựa trên cơ sở những ý cơ bản đã vạch ra, hãy tập trung liên hệ những kiến thức đã học, đã nắm được, nhớ được và sử dụng các phương pháp liên kết câu, liên kết đoạn trong văn bản để làm bài (không làm theo kiểu gạch đầu dòng trên giấy nháp). Nhấn mạnh đây là trọng tâm nhất của câu trả lời, điểm cao hay thấp là ở nội dung phần này.

Phần kết luận: Phải có phần kết luận trong làm bài, tóm tắt ý nghĩa, tác dụng của phần thân bài để làm kết luận – cũng như phần mở đầu, chỉ cần vài câu, không nên dài dòng (có thể sử dụng phần kết quả, ý nghĩa, hay bài học kinh nghiệm cho phần kết luận)

  1. Giải pháp thứ sáu: Thường xuyên kiểm tra việc tự học ở nhà và cách diễn đạt trong làm bài của học sinh.

Một số người cho rằng, đã là học sinh giỏi thì ý thức tự học đã có, không cần kiểm tra, tự các em đã có tinh thần, ý thức, thái độ học tập. Tuy nhiên không hẳn như

vậy, đã học thì phải có kiểm tra. Bởi vậy, sau mỗi buổi học cần đưa ra những câu hỏi, những bài tập yêu cầu học sinh về nhà học và hoàn thành (bên cạnh việc tự học những nội dung đã học trên lớp). Hôm sau đến lớp giành khoảng 30 phút (ngoài phân phối chương trình) để kiểm tra việc tự học của học sinh thông qua những câu hỏi và trả lời giống như bài kiểm tra 15 phút của học trên lớp, tranh thủ thời gian làm bài của học sinh, giáo viên kiểm tra những câu hỏi, bài tập đã ra hôm trước. Trên cơ sở bài làm kiểm tra của học sinh và làm bài tập ở nhà của các em, giáo viên bồi dưỡng đánh giá tinh thần, thái độ, ý thức học tập của từng em. Qua bài làm của các em cũng uốn nắn cách diễn đạt trong bài làm của từng em.

Đặc biệt, chúng ta cần chú trọng vào các bài kiểm tra định kỳ, bởi chúng được

 xem như các buổi “sát hạch”  để các em làm bài như một buổi thi thật và nói rõ trước

học sinh nếu ai không đạt yêu cầu từ 5 điểm trở lên sẽ bị loại khỏi danh sách đội tuyển. Vấn đề này phải đưa ra ngay từ khi mới bước vào đợt bồi dưỡng, mục đích chính là yêu cầu các em phải thực sự chú tâm vào học tập và học có trách nhiệm, tránh tư tưởng bằng lòng với kết quả thi đạt giải cấp huyện và được chọn vào đội tuyển thi cấp tỉnh chứ không có mục tiêu, ý chí vươn lên để đạt thành tích cao hơn.

  1. Giải pháp thứ bảy: Sưu tầm các dạng câu hỏi, đề ra của những năm trước đây để giúp học sinh tìm hiểu và làm quen với các dạng, các kiểu câu hỏi đề ra.

          Nhờ sự giúp đỡ của các đồng nghiệp cùng tìm hiểu qua mạng internet, giáo viên sưu tầm các đề ra của những năm trước để giới thiệu cho học sinh, hướng dẫn cho học sinh cách trả lời, tránh bỡ ngỡ, bất ngờ trước đề ra.

          Theo sự đúc rút của bản thân, từ năm học 2011 – 2012,  đề thi học sinh giỏi  môn Lịch sử lớp 9 đã có sự thay đổi, theo hướng tăng mức độ vận dụng , giảm mức độ nhận biết và thông hiểu trong những câu hỏi. Từ đó đặt ra yêu cầu học sinh cần phải phân tích và nhận dạng được câu hỏi trong bài thi, trong quá trình bồi dưỡng tôi tập trung giúp các em nắm được ba dạng câu hỏi sau đây:

        – Trước hết là câu hỏi có dạng: “…nào”, “…gì” “…như thế nào?”, “Trình bày”, “nêu”, “khái quát”, “tóm tắt”. Ví dụ: Trình bày ý nghĩa lịch sử, nguyên nhân thắng lợi của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp (1945 – 1954) ?(đề thi cấp huyện năm 2011-2012). Đây là dạng câu hỏi trình bày sự kiện. Đối với dạng câu này, chúng ta phải trình bày theo thứ tự: hoàn cảnh, chủ trương, diễn biến, kết quả, ý nghĩa của sự kiện.

       – Thứ hai là câu hỏi có dạng: “ tại sao?” Ví dụ: Vai trò của phong trào công nhân đối với việc thành lập Đảng cộng sản Việt Nam? Tại sao nói Đảng cộng sản Việt Nam ra đời là một  bước ngoặt trong lịch sử cách mạng Việt Nam?(đề thi cấp huyện năm 2011-2012)– đây là dạng câu hỏi yêu cầu học sinh phải giải thích. Đối với câu hỏi dạng này, nhất thiết chúng ta phải tuân thủ nguyên tắc bộ môn: Trình bày tóm tắt sự kiện trước khi giải thích tại sao, một bài viết như vậy thì mới đầy đủ hai phần: biết và

 hiểu lịch sử.

        – Thứ ba là câu hỏi có dạng “phân tích”, Ví dụ: Phân tích nguyên nhân dẫn đến cuộc đảo chính Pháp của Nhật 9/3/1945? Chủ trương của ta khi Nhật đảo chính Pháp ? (đề thi cấp huyện năm 2012-2013) – câu hỏi dạng này yêu cầu chúng ta vừa trình bày, vừa giải thích, chứng minh, so sánh, đánh giá.

          Sau khi nhận dạng được câu hỏi, học sinh cần nhận biết yêu cầu của đề bài qua các từ “ khóa”. Cách hỏi về một vấn đề lịch sử có nhiều cách khác nhau nhưng cái đích cần hỏi thì không khác nhau, vì vậy học sinh cần tập dượt, làm quen với nhiều dạng câu hỏi, nhiều cách hỏi khác nhau và quan trọng là nhận biết từ “ khóa”. Từ khóa ở đây muốn đề cập đến là vấn đề chính, trọng tâm mà đề bài yêu cầu là gì. Nếu học sinh nhận biết từ “ khóa” thì sẽ “ mở” được đề và làm bài theo đúng yêu cầu đề ra.

Trên đây là một số giải pháp mà tôi đã từng áp dụng và mang lại những hiệu quả thiết thực, cảm ơn các đồng chí đã lắng nghe, rất mong được sự góp ý của các đồng chí.

         Người viết tham luận:

 

               Trần Quốc Huy